• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 129 | Tháng 9/2010

    Tranh chấp là một phần tất yếu trong hoạt động thương mại và không thể tránh được. Theo Luật sư Trần Hữu Huynh – Trưởng ban Pháp chế VCCI, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ.

    Ông Trần Hữu Huỳnh

    11% và 73%

    Khi  xảy  ra  tranh  chấp,  các bên liên quan có thể lựa chọn các phương thức giải quyết là thương lượng,  hòa  giải,  tòa  án    trọng tài.  Thương  lượng  hay  hòa  giải thành  công  cũng  không    hiệu lực pháp lý, tức là không có hiệu lực cưỡng chế, chỉ kết quả hòa giải tại  tòa án mới có hiệu  lực cưỡng chế thi hành. Trọng tài là phương thức  giải  quyết  tranh  chấp  phát sinh trong hoạt động thương mại được  các  bên  thỏa  thuận  bằng văn bản và được  tiến hành  theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định.

    Trong  thương  mại  quốc  tế, người  ta  chủ  yếu  khuyến  khích sử dụng các phương thức thương lượng,  hòa  giải  hoặc  trọng  tài thương  mại,  ít  sử  dụng  tòa  án của một  quốc  gia  để  giải  quyết tranh chấp giữa các bên có quốc tịch khác nhau. Thực tế cho thấy, khi  tranh  chấp  xảy  ra  liên  quan đến  yếu  tố  nước  ngoài,  chỉ  11% vụ việc được giải quyết bằng tòa án xuyên quốc gia, 16% sử dụng hòa giải quốc tế, trong khi có tới 73% vụ việc được giải quyết bằng trọng  tài  quốc  tế    giải  quyết tranh chấp thay thế.

    Theo luật sư Trần Hữu Huỳnh, các  DN  kinh  doanh  XNK  đang dần    xu hướng dùng  các  biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong các hợp đồng ít thấy các  bên  đồng  ý  sử  dụng  tòa  án quốc gia hay luật quốc gia để giải quyết tranh chấp. So với 20 năm trước, cộng đồng DN Việt   Nam đã    một  bước  tiến  dài  trong việc  lựa  chọn một  phương  thức vốn dĩ rất phổ biến trong thương mại  quốc  tế.  Sử  dụng  trọng  tài trong  giải  quyết  tranh  chấp  có ưu điểm: Phán quyết trọng tài có giá  trị chung  thẩm; Thủ  tục  linh hoạt; Thời gian giải quyết nhanh chóng;  Nội  dung  tranh  chấp được giữ bí mật; Trọng tài viên có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cao; Phạm vi thi hành phán quyết rộng (tại trên 150 quốc gia và vùng lãnh thổ).

    Tuy nhiên, vẫn còn nhiều DN ngộ nhận rằng, phán quyết trọng tài  không    hiệu  lực    rằng, việc  đưa  vụ  việc  ra  trọng  tài  là để cho vui vẻ, thậm chí coi phán quyết  trọng  tài  như  tờ  giấy  lộn.

    Đây  không  phải  lỗi  tại  DN mà lỗi  tại  quá  trình  xây dựng pháp luật  của  Việt  Nam.  Chính  điều đó ghi một dấu ấn rất xấu trong tiềm thức của các DN khi họ cho rằng,  phán  quyết  của  trọng  tài không    hiệu  lực.  Tuy  nhiên, kể  từ  Pháp  lệnh  Trọng  tài  năm 2003    Luật  Trọng  tài  Thương mại  2010,  thì  phán  quyết  trọng tài  là chung  thẩm,  tức  là có hiệu lực  như  phán  quyết  của  tòa  án.“Với  việc  ban  hành  Pháp lệnh Trọng  tài và Luật Trọng  tài Thương  mại,  Nhà  nước  đã  đặt niềm  tin vào  các định  chế ngoài xã hội, đặt dấu bằng giữa các  tổ chức ngoài xã hội với tòa án. Một bản  án  nhân  danh  nước  Cộng hòa XHCN  Việt Nam    một bản  án  nhân  danh  công    của chính  những  người  do  các  bên liên  quan  chỉ  định  đều    hiệu lực ngang nhau” – luật sư Huỳnh khẳng định.

    DN nên biết về trọng tài thương mại

    Thứ  nhất,  thỏa  thuận  trọng tài chọn trọng tài nào thì tổ chức trọng tài đó mới có thẩm quyền, chọn hình thức  trọng  tài nào  thì lúc bấy giờ hình thức trọng tài đó mới được  thành  lập. Ví dụ,  nếu thỏa thuận trọng tài ghi  là trọng tài trọng tài không quy chế - một trọng  tài  do  các  bên  thành  lập, mỗi  bên  chỉ  định một  người  và hai người đó bầu một người  thứ ba  làm  trung gian giữa họ. Điều đó  nghĩa    bất  cứ  ai  trong một ngày đẹp  trời nào đó đều có  thể trở  thành  trọng  tài  viên,  không nhân danh  ai  cả,  chỉ nhân danh công  lý và niềm  tin  của  các bên và nhân danh chính mình.

    Thứ  hai,  cái  hay  của  việc  sử dụng trọng tài là thẩm quyền do các bên trao cho và khác với tòa án ở chỗ: tòa án nhân danh nhà nước và  luật pháp, còn  trọng  tài nhân danh các bên để hoạt động  theo thỏa  thuận của các bên. Các bên không có quyền thay đổi bộ luật tố  tụng dân  sự nhưng  có quyền định ra tố tụng để trọng tài viên được chỉ định đó hoạt động theo đúng thỏa thuận của chính họ.

    Thứ ba, khi có trọng tài thì loại trừ  việc  giải  quyết  tranh  chấp bằng tòa án. “Nếu các bên đã đưa điều khoản giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì không thể đưa vụ kiện ra tòa nếu đó đơn thuần là ý muốn của một bên. Nếu cácbên muốn giải quyết bằng tòa án thì phải thỏa thuận sửa đổi điều khoản đó, giống như sửa đổi bất kỳ  điều  khoản  nào  trong  hợp đồng. Khi đã  lựa  chọn  trọng  tài thì  tòa án không có  thẩm quyền nếu chỉ có một bên muốn đưa vụ việc ra tòa án, trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực  hiện  được.  Điều  đó  cũng nghĩa là chỉ được phép chọn một phương  thức  giải  quyết  tranh chấp là trọng tài hoặc tòa án chứ không thể một lúc lựa chọn cả hai.

    Thứ tư, bất kỳ một ai tốt nghiệp đại học và có 5 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đó đều có thể trở thành trọng tài viên.

    Thứ  năm,  khác  với  tòa  án, trọng tài chỉ xét xử 1 lần và phán quyết    giá  trị  chung  thẩm,  và nếu không bị hủy thì phán quyết được chuyển sang ngay cơ quan thi hành án. Đó chính là lý do DN thích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vì tranh chấp được giải quyết  rất nhanh. Hai bên    thể thỏa thuận yêu cầu trọng tài giải quyết  trong  1-2  tháng,  còn  nếu đưa ra tòa án có thể mất vài năm.

    Thứ sáu, tòa án sử dụng ngôn ngữ  quốc  gia,  còn  trong  các  vụ kiện quốc  tế các bên được  tự do lựa  chọn  ngôn  ngữ,  luật  pháp, địa  điểm    trọng  tài  viên.  Xét xử  bằng  trọng  tài  được  giữ  bí mật vì đó  là mong muốn giữ bí mật thương mại của các bên chứ không công khai như tòa án.

    Thứ  bảy, nếu  tranh  chấp  liên quan đến yếu tố nước ngoài, phán quyết của trọng tài có phạm vi thi hành ở trên 150 quốc gia – những nơi tham gia công ước New York mà Việt  Nam cũng là thành viên. Còn nếu đưa ra tòa án thì còn phụ thuộc vào việc Việt  Nam  có ký hiệp định  tương  trợ  tư pháp với nước mà bị đơn có trụ sở hoặc tài sản hay không. Hiện Việt Nam mới chỉ ký hiệp định tương trợ tư pháp với trên 10 quốc gia, nhưng chưa    với  đối  tác  thương mại lớn nào cả. Cho nên việc đưa đơn kiện    Việt Nam  để lấy  phán quyết  của  tòa  án Việt Nam mà được  công  nhận    thi  hành  ở nước ngoài là rất khó.

    Thứ tám, bất kỳ ai cũng có thể trở  thành  trọng  tài  nói  chung, nhưng  trong một vụ kiện cụ  thể thì  không  phải  ai  cũng    thể trở thành trọng tài viên để tránh trường  hợp  xung  đột  hoặc  liên quan đến  lợi  ích. Ví dụ nếu anh mua  cổ  phiếu  của một  công  ty thì công ty đó không thể chỉ định anh  làm  trọng  tài viên; hay nếu vợ anh là cố vấn pháp lý của công ty thì  anh  không  thể  trở  thành trọng  tài  viên  cho  vụ  kiện  của công ty đó, ...

    “Cuối  cùng,  khi  thỏa  thuận hợp  đồng mua  bán, các  DN  và đối  tác nên  thỏa  thuận đưa điều khoản  giải  quyết  tranh  chấp bằng trọng tài cũng như chỉ định tổ  chức  trọng  tài,  đặc  biệt  nên thuyết  phục  đối  tác  sử  dụng  tổ chức  trọng  tài  Việt   Nam    có trình  độ  không  kém  trọng  tài quốc tế. Điều này không phải dễ, tùy thuộc vào việc anh ở thế đàm phán mạnh hay yếu. Nhưng cũng đừng nghĩ rằng, nếu đưa về giải quyết ở Việt Nam  thì  trung  tâm trọng  tài Việt   Nam  sẽ  bên vực, thiên vị cho DN Việt Nam” – luật sư Huỳnh cho biết.

                                    Nguyễn Khải

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ CHỦ ĐỀ NÀY
    vo ngoc nhu
    09/10/2010 15:29 (GMT+7)
    so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của toà án với thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    • MÃ CP
    • CÔNG TY
    • GIÁ
    • THAY ĐỔI
    Dữ liệu do Gafin cung cấp Xem tiếp