• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 132 | Tháng 12/2010

    Trong đàm phán ký kết các FTA của Chính phủ hiện nay, thỏa thuận thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) được đánh giá là cam kết thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.

    TS. Nguyễn Thị Thu Trang
    Đàm phán này có sự tham gia của Hoa Kỳ, nền kinh tế lớn nhất thế giới và đối tác thương mại hàng đầu của ta. bài viết này giới thiệu những nét cơ bản nhất về TPP cũng như những lợi ích và thách thức mà Hiệp định này có thể mang đến cho các DN cũng như nền kinh tế nói chung.
     
    TPP là gì?
    Hiệp định Hợp tác Kinh  tế Chiến  lược Xuyên Thái Bình Dương  (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) là một hiệp định  thương mại  tự  do  (FTA)  được  ký  kết  ngày 3/6/2005,  có  hiệu  lực  từ  28/5/2006  giữa  4  nước Singapore,  Chile,  New  Zealand,  Brunei  (vì  vậy Hiệp định này còn gọi là TPP4 hay P4).
     
    Tháng  9/2008, Hoa Kỳ  tỏ  ý  định muốn  đàm phán để  tham  gia TPP  và mở  rộng phạm  vi  của Hiệp định này. Tiếp đó nhiều nước khác cũng bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán này. Đến nay đàm phán TPP mở rộng đã trải qua 3 vòng với sự tham gia của 05 đối tác nữa, gồm Ôxtrâylia, Peru, Hoa Kỳ, Malaisia và Việt Nam. Trong tương lai, số lượng các bên  tham gia đàm phán còn có  thể mở rộng thêm (ví dụ Nhật Bản, Canađa, Hàn Quốc,… đang cân nhắc việc tham gia TPP).

    Theo dự kiến, đây  sẽ  là một FTA  thế hệ mới, “FTA  của  thế  kỷ  21”  theo  kỳ  vọng  của Hoa Kỳ. Điều này được hiểu là TPP sẽ có phạm vi cam kết rất rộng, bao gồm các vấn đề thuế quan, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và cả các vấn đề phi thương mại khác như môi trường, lao động... với mức độ mở cửa mạnh và lộ trình thực hiện nhanh.
     
    Được gì?
     
    Với cách  hiểu  thông  thường, lợi  ích  trong TPP  của Việt Nam chủ  yếu  nằm  ở  khả  năng  hàng hóa dịch vụ của chúng ta sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận thị trường cácnước đối  tác  thông qua việc đốitác cắt giảm thuế quan, bãi bỏ cácđiều kiện đối với đầu tư dịch vụ.

    Lý  thuyết  là vậy, nhưng  trên thực  tế  dịch  vụ  của  Việt  Namhầu như chưa thể XK hay “bànhtrướng” đi đâu (trừ một số đầu tưban đầu ở Lào hay Campuchia).

    Vì thế lợi ích từ TPP được rút gọn ở  việc  hàng  hóa  XK  Việt  Namđược  hưởng  các  mức  thuế  suấtưu đãi (0-5%) ở các thị trường đốitác, đặc biệt là Hoa Kỳ.

    Là  một  nền  kinh  tế  định hướng  XK,  việc  có  thể  tiếp  cận các  thị  trường  lớn  như Hoa Ky với mức  thuế  suất  bằng  0  hoặc thấp sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh lớn và một triển vọng sángsủa  cho  nhiều  ngành  hàng  củachúng  ta,  theo đó  là  lợi  ích  chomột bộ phận lớn người lao độnghoạt  động  trong  các  lĩnh  vựcphục vụ XK.
     

    Bên  cạnh  những  lợi  ích  XK, Việt Nam có  thể “có  lời”  từ TPP ngay cả ở thị trường nội địa, nơivốn được xem là “chỉ chịu thiệt” từ các  FTA  nói  chung.  “Khoản lời”  này  nằm  ở  những  lợi  ích gián  tiếp mà  những  khoản  đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP. Đó là một môi trường  kinh  doanh  cạnh  tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻ hơn, chất  lượng  tốt  hơn  cho  người tiêu  dùng,  những  công  nghệ  và phương thức quản lý mới cho đối tác Việt Nam và một sức ép để cải tổ và để tiến bộ hơn cho các đơn vị dịch vụ nội địa.

    Lợi  ích  cũng  có  thể  đến  từ những  thay  đổi  thể  chế  hay  cải cách để đáp ứng những đòi  hỏi về  pháp  luật  và  cạnh  tranh  từ TPP. Đây là những lợi ích lâu dài và xuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội.
     
    Những  lợi  ích  trên  rõ  ràng  là không nhỏ và vì vậy cũng không khó  giải  thích  tại  sao  nhiều chuyên gia  cho  rằng  tham  gia TPP thực sự là một cơ hội “không thể bỏ lỡ” cho Việt Nam.

    Hào hứng là vậy, nhưng có lẽ cũng cần điềm tĩnh hơn để đánh giá thực chất vấn đề và có cách thức để  thực sự không bỏ  lỡ cơ hội. 

    Thực tế, cơ hội tăng mạnh XK không phải cho tất cả khi ma, ví dụ  đối  với  Hoa  Kỳ,  hàng  thủy sản  sơ  chế  hay  đồ  gỗ  (hai  lĩnh vực  XK  chủ  yếu  của  Việt  Nam sang thị trường này) thực tế đang được hưởng mức thuế suất bằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng không quan trọng.
     

    Đối với những mặt hàng khác, trong khi cơ hội tăng XK với giá cạnh tranh là có thật và rất lớn (ví dụ dệt may, da giầy), những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ  sinh  dịch  tễ  hay  kiện  phòng vệ  thương mại  với  quy  chế  nền kinh  tế  phi  thị  trường  mà  Hoa Kỳ thực hiện cho Việt Nam rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm  thuế  quan. Cũng  như  vậy những  điều  kiện  ngặt  nghèo  về lao động, về xuất xứ nguyên liệu cũng có thể khiến hàng hóa Việt Nam không tận dụng được lợi ích từ việc giảm thuế trong TPP.
     
    Vậy là các vấn đề  rào cản kỹ thuật  TBT,  vệ  sinh  dịch  tễ  SPS, nguồn gốc xuất xứ hay nền kinh tế phi thị trường là những vấn đề tiên  quyết  phải  đàm  phán  theo hướng  có  lợi  cho Việt Nam  nếu chúng  ta  muốn  thực  sự  nhận được những  lợi  ích  từ việc giảm thuế quan trong TPP.

    Mất gì từ TPP?
     
    Như đã đề cập, tham gia FTA nói chung và TPP nói riêng, Việt Nam  sẽ  phải mở  cửa  nhanh  và mạnh thị trường nội địa của mình cho hàng hóa, dịch vụ từ các nước đối  tác. Nếu Việt Nam có “mất” gì khi  tham gia TPP  thì  là mất ở điểm này chủ yếu.

    Việt Nam hiện vẫn còn là thị trường tương đối đóng với nhiều nhóm  mặt  hàng  còn  giữ  mức thuế  MFN  khá  cao  (và  với  lộ trình mở cửa dài hơi). Vì thế việc phải  cam kết giảm  thuế đối với phần  lớn các nhóm mặt hàng  từ các nước đối tác TPP có thể khiến luồng hàng NK  từ các nước này gia tăng nhanh chóng. Hệ quả tất yếu  là  thị phần của các nhà sản xuất Việt Nam  tại  sân nhà  sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Đây  là  thực  tế đã  từng xảy  ra  khi  chúng  ta  thực  hiện các  FTA  đã  ký,  mà  đặc  biệt  là ACFTA  với  Trung Quốc. Nguy cơ  này  đặc  biệt  nguy  hiểm  đối với  nhóm  hàng  nông  sản,  vốn gắn  liền với nhóm đối  tượng dễ bị  tổn  thương  trong hội nhập  là nông dân và nông thôn.
    Tương tự, trong lĩnh vực dịch vụ, sự  tham gia mạnh mẽ và  tự do hơn của các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm,  có  ưu  thế  về  dịch  vụ  trên thế giới (đặc biệt là các nhà cung cấp  dịch  vụ  Hoa  Kỳ)  sẽ  khiến cho các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam yếu thế trong cuộc cạnh tranh không cân sức.
     
    Bên cạnh những mối nguy từ việc mở  cửa  thị  trường  nội  địa, điều mà nhiều chuyên gia lo ngại từ  TPP  còn  là  những  cam  kết khác  về  những  vấn  đề  như  bảo hộ cao hơn đối với quyền sở hữu trí  tuệ, đòi hỏi  cao  trong bảo vệ môi  trường,  những  nguyên  tắc về  lao động... Đây  là những vấn đề phi thương mại nhưng có thể tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại nếu yêu cầu cam kết quá cao so với khả năng đáp ứng của Việt Nam.

    Điều  này  hoặc  là  khiến  DN Việt Nam mất nhiều chi phí hơn để thực thi (ví dụ vấn đề bảo hộ quyền  sở hữu  trí  tuệ) hoặc  là  sẽ làm vô hiệu hóa những lợi thế có được từ những cam kết cắt giảm thuế của đối tác.
     
    Vài dòng kết
     
    Có lẽ việc cân đong thiệt hơn của một FTA không dễ dàng và cũng  khó  có  thể  có một  đáp  án như  nhau  với  mỗi  ngành,  mỗi DN. Đối  với  TPP,  điều  này  còn phụ thuộc vào kết quả đàm phán cuối cùng, vào hành động của các DN trong việc vận động phương án đàm phán thích hợp cũng như chiến lược cạnh tranh sau này.

    Ngày 13/11/2010 vừa rồi, Việt Nam đã  trở  thành một bên đàm phán  chính  thức  của  TPP.  Con đường vậy là đã mở, và hy vọng với người mở đường và  cả  cộng đồng sẽ nỗ lực để con đường này dẫn  tới một  triển vọng  tương  lai tươi sáng hơn…
    Nguyễn Thị Thu Trang
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    • MÃ CP
    • CÔNG TY
    • GIÁ
    • THAY ĐỔI
    Dữ liệu do Gafin cung cấp Xem tiếp