• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 132 | Tháng 12/2010

    Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra từ giữa năm 2008 và trở nên căng thẳng hơn trong năm 2009 đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức tiêu thụ của người dân Mỹ...

    Tôm càng xanh xuất khẩu
    Từ năm 2000 đến 2007, NK thủy sản  của Mỹ  liên  tục tăng, đạt tới giá trị kỷ  lục vào năm 2007 với 13,696 tỷ USD. Sau đó, do khủng hoảng tài chính 2008-2009, NK thủy sản giảm dần và còn có thể tiếp tục giảm trong năm 2010 với mức độ nhẹ hơn.
     
    Các  nguồn  thủy  sản  chính cung  cấp  cho  Mỹ  gồm:  Trung Quốc  (chiếm 23%  tổng NK  thủy sản  của  Mỹ),  Thái  Lan  (16%), Canađa  (13%),  Inđônêxia  (6%), Việt  Nam  (5%),  Êcuađo  (5%), Chi  Lê  (4%)  và  các  nguồn  khác (28%).
    Chia  theo  khu  vực,  châu  Á cung cấp 59% sản lượng thủy sản NK vào Mỹ, Bắc Mỹ chiếm 19%, Nam Mỹ 13%, châu Âu 6% và các khu vực khác 3%.
     
    Nhập  khẩu  năm  2009  giảm nhẹ

    Năm  2009,  Mỹ  NK  13,1  tỷ USD thủy sản  làm thực phẩm,  ít hơn 1,05 tỷ so với năm 2008. Khối lượng NK đạt 2.341.242 tấn, giảm không đáng kể so với năm trước.
    Cơ  cấu  sản  phẩm  NK  chính tính  theo  giá  trị  lần  lượt  là  sản phẩm  tươi và đông  lạnh  (11,3  tỷ USD),  đồ  hộp  (1,4  tỷ USD),  sản phẩm  đã  xử  lý  bảo  quản  lạnh (256,1  triệu  USD),  trứng  cá  (28 triệu USD) và các sản phẩm khác (110 triệu USD). Ba loại thủy sản NK nhiều nhất gồm: tôm, cá hồi và cá ngừ (kể cả cá ngừ hộp)
     
    Tôm:
    NK  tôm  đạt  giá  trị  lớn  nhất trong tổng NK thủy sản của Mỹ. Năm  2009, Mỹ NK  548.539  tấn, giảm 2,8%  so với năm 2008. Với giá  trị  đạt  3,8  tỷ USD, NK  tôm chiếm 28,6% tổng giá trị NK thủy sản làm thực phẩm của Mỹ.
    Trong  cơ  cấu  sản phẩm,  tôm vỏ có khối lượng lớn nhất, chiếm 41% tổng số. Tiếp sau là tôm thịt dạng nguyên  liệu 34%;    tôm  thịt khác  18%;  và  các  loại  tôm  khác chiếm  7%. Tỷ  trọng  tôm  vỏ NK có xu hướng giảm nhẹ, trong khi NK các loại tôm chế biến sẵn, gia tăng giá trị và ăn liền tăng lên.
     
    Các nhà cung cấp chính gồm Thái  Lan  34%;  Inđônêxia  13%; Êcuađo 11%; Trung Quốc và Việt Nam, mỗi nước chiếm 8%; Mêhicô 7%; Ấn Độ 4%. Các nước còn  lại chỉ  chiếm  15%. Mấy  năm  trước Thái Lan và Trung Quốc  luôn  là nhà cung cấp  tôm hàng đầu cho thị trường  Mỹ,  nhưng  vài  năm gần đây chỉ có Thái Lan giữ được vị trí này, Trung Quốc đã dần lùi lại sau Inđônêxia và Êcuađo.
    Cá hồi đông  lạnh và  tươi  (kể cả phi lê)
    Là  mặt  hàng  được  tiêu  thụ nhiều  thứ  hai.  Năm  2009,  Mỹ nhập  227.182  tấn,  trị  giá  1,6  tỷ USD  giảm  nhẹ  về  khối  lượng (0,7%),  nhưng  tăng  nhẹ  về  giá trị  (1,1%)  so  với  năm  2008.  Sản phẩm cá hồi được NK nhiều nhất dưới dạng tươi và đông lạnh, một phần đáng kể khác là cá hồi hộp, xông khói và trứng cá hồi.
     
    Cá  ngừ  tươi,  đông  lạnh  và đóng hộp
    Trước đây, mặt hàng này được tiêu thụ phổ biến với khối lượng lớn nhưng nay đã đang mất dần vị trí hàng đầu do sự tăng trưởng nhanh của tôm và một số loài cá thịt trắng khác. Năm  2009, Mỹ  nhập  344.777 tấn  sản  phẩm,  trị  giá  1,281  tỷ USD, giảm 8% so với năm 2008.
     
    Nhập khẩu  thuỷ  sản  của  Mỹ trong 9 tháng đầu năm 2010
    Đến  nay,  dư  âm  của  cuộc khủng  hoảng  tài  chính  gần  như không  còn  ảnh  hưởng  đáng  kể đến  những  hoạt  động  thương mại của Mỹ.

    NK hàng hoá nói chung đang tăng dần và NK thực phẩm thủy sản nói riêng tăng lên với tốc độ khá.  Tháng  9  vừa  qua, Mỹ  NK 205.081 tấn thủy sản, tăng 8,7% so với tháng 9 năm ngoái. Tổng NK 9  tháng  đầu  năm  đạt  1.752.396 tấn,  tăng  3,9%  so  với  cùng  kỳ năm 2010. 

    Tôm  và  cá  ngừ  đều  có  khối lượng NK tăng trong 9 tháng đầu năm  2010,  trong  đó  cá  ngừ  đạt mức  tăng  rất  cao,  tới  26%,  còn tôm chỉ tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm 2009. Riêng cá hồi có khối lượng NK giảm nhẹ 2,5%.

    Trong  các  nhà  cung  cấp  tôm hàng đầu  cho Mỹ  trong 9  tháng đầu  năm  2010,  XK  của  Ấn  Độ tăng  21,6%;  Trung  Quốc  8,7%; Thái  Lan  5,4%;  Việt Nam  2,5%. Trong khi đó Mêhicô giảm mạnh với  41,6%.  Thái  Lan  vẫn  là  nhà XK tôm số 1 trên thị trường Mỹ.Xuất  khẩu  thủy  sản  Việt Nam sang  Mỹ  9  tháng  đầu  năm 2010

    Việt  Nam  là  nước  cung  cấp thủy sản lớn thứ 5 cho thị trường Mỹ, đồng  thời cũng  là nhà cung cấp  tôm  lớn  thứ  5  ở  thị  trường này. Nguồn cung tôm cỡ lớn của Việt Nam  có  vai  trò  quan  trọng trên thị trường này.

    Năm  2009,  Việt  Nam  xuất gần 123.000 tấn thủy sản sang thị trường Mỹ,  trị giá  trên 713  triệu USD,  tăng  14.6%  về  khối  lượng nhưng giảm 4,2% về giá trị.
     
    9 tháng  đầu  năm  2010.  XK thủy sản Việt Nam sang Mỹ đạt trên  108.000  tấn,  trị  giá  666,66 triệu USD,  tăng  đáng  kể  so  với cùng kỳ năm ngoái, nhất là tốc độ tăng giá trị (37,4%) bằng gần gấp rưỡi  so  với  khối  lượng  (23,7%). Như  vậy  thủy  sản XK  sang Mỹ đã có cải thiện đáng kể về giá và mức độ chế biến sâu.
    Từ đầu những năm 2000, Mỹ đã  trở  thành  một  trong  ba  thị trường  tiêu  thụ nhiều nhất  thủy sản  của  Việt  Nam,  mặc  dù  có hai vụ kiện “chống bán phá giá” (CBPG)  đối  với  tôm  và  philê  cá tra đông lạnh. Mấy năm gần đây, giá trị XK sang Mỹ thường chiếm khoảng  16-22%  tổng  giá  trị  XK thủy  sản  của Việt Nam;  riêng  9 tháng đầu năm 2010 chiếm 19%, tăng đáng kể so với mức trên 16% của cả năm 2009.
    Các  mặt  hàng  thủy  sản  XK chính gồm tôm, chiếm 26,4% tổng giá  trị XK  tôm của Việt Nam; cá tra  (11%  tổng XK cá  tra); cá ngừ (45,3%); nhuyễn thể (3,7%).
     
    Sản phẩm thủy sản chế biến GTGT
     
    Trong đó, cá ngừ có được tốc độ tăng trưởng mạnh, tăng 62,5% về  khối  lượng  và  112,8%  về  giá trị (gần 100 triệu USD), ấn lượng nhất  là  cá  ngừ  đại  dương  đông lạnh  cao  cấp  và  cá  ngừ  hộp. Tỷ lệ cá dạng nguyên liệu ngày càng giảm.  Dự  đoán,  XK  cá  ngừ  của nước ta sẽ tiếp tục giữ vững nhịp độ trên trong những tháng tới.
     
    Sản  phẩm  của Việt Nam  XK sang Mỹ đáng  lo ngại nhất hiện nay là cá tra, mặc dù theo thống kê,  9  tháng đầu năm nay giá  trị XK đạt trên 113 triệu USD – mức cao nhất tính theo thị trường đơn lẻ. Cả  khối  lượng  và  giá  trị  XK vẫn tăng mạnh, tương ứng 20,9% và 17,1%,. Nhưng mới đây, nhiều nhà XK cá  tra bị đe doạ áp mức thuế CBPG (sơ bô) cho giai đoạn từ  1/8/2008  đến  31/7/2009  rất cao  do  Bộ  Thương mại Hoa Kỳ (DOC)  cố  tình  thay  đổi  phương pháp tính biên độ phá giá đối với cá tra Việt Nam.
    XK tôm 9 tháng đầu năm nay có chuyển biến rất tích cực, từ mức giảm khá sâu trong cả năm 2009, cả về khối lượng và giá trị (giảm 8,3% và 15,4% tương ứng). Giá trị XK 9 tháng đầu 2010 đạt 376 triệu USD, chỉ thấp hơn không đáng kể so với cả năm 2009.
     
    Mặc  dù  thị  trường  tiêu  thụ tôm của Mỹ thường biến động và cạnh  tranh  gay  gắt,  nhưng  tôm Việt Nam  đã  có  uy  tín  tốt  trên thị  trường  này.  Có  nhiều  triển vọng  XK  từ  nay  đến  cuối  năm vẫn  thuận  lợi  và  đạt  giá  trị  cao hơn  đáng  kể  so  với  năm  2009. Bên cạnh đó, có hy vọng WTO sẽ đưa  ra  những phán  quyết đúng đắn trong vụ việc Việt Nam kiện Mỹ  về  phương  pháp  tính  biên độ thuế CBPG đối với tôm đông lạnh.
    Ngoài  ba mặt  hàng  chủ  đạo trên, Việt Nam còn XK sang Mỹ các  sản  phẩm  nhuyễn  thể,  chủ yếu  là  mực  và  bạch  tuộc.  Tuy vậy, trong 9  tháng đầu năm nay giá trị XK đạt được không lớn và giảm khá sâu so với cùng kỳ năm trước, giảm 18.3% về khối lượng và 12,7% về giá trị. Có thể do gần đây  các mặt  hàng  này được  tập trung XK sang EU, trong khi sản lượng  khai  thác  hạn  chế.  Tổng XK  nhóm  mặt  hàng  này  trong năm 2010 có thể thấp hơn so với năm 2009.
     
    Lời kết
    Hơn  một  thập  kỷ  nay,  Mỹ ngày càng  thể hiện  là  thị  trường tiêu  thụ  thủy  sản  hàng đầu  của Việt Nam. Kinh  tế Mỹ phục hồi sớm hơn và rõ rệt hơn so với châu Âu,  vì  vậy  sức mua  và  tiêu  thụ thủy  sản  cũng đang  trở  lại nhịp độ tích cực như trước năm 2008.
     
    Tuy nhiên, do tầm quan trọng của thị trường này, nên mỗi động thái tiêu cực xuất hiện, bất kể từ các nhà NK,  các nhà phân phối, bán  lẻ  hay  nhà  hàng  khách  sạn ở đây đều ảnh hưởng mạnh đến tiêu thụ thủy sản của Việt Nam.
     
    Nhưng  trên  hết  và  đáng  lo ngại  nhất  vẫn  là  những  chính sách thương mại của chính quyền Mỹ. Chính sách bảo hộ sản xuất trong  nước  và  sự  phân  biệt  đối xử đối với ngành cá tra Việt Nam đã gây thiệt hại cho ngành này từ sản  xuất đến  chế biến XK, ngay từ khi Mỹ áp đặt vô lý mức thuế CBPG đối với phi  lê cá  tra đông lạnh Việt Nam.
    Đe  dọa  áp  đặt  mức  thuế CBPG cao kỷ  lục 130% một cách độc đoán và phi lý mới đây có thể coi như một cú đánh “nốc ao” đối với sản phẩm này của Việt Nam trên  thị  trường Mỹ,  nếu  không bị ngăn chặn bởi sự  liên kết đấu tranh quyết liệt của các DN và tổ chức DN hai phía và sự vận động tích  cực  ở  cấp  chính  phủ  song phương.
     
    Mặc dù còn có nhiều khó khăn từ phía thị trường và từ thực  lực sản  xuất  nguyên  liệu,  nhưng  có thể đánh giá chung, XK thủy sản của Việt Nam sang Mỹ trong năm 2010 sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt và đạt kết quả cao. Hai mặt hàng có nhiều hứa hẹn là tôm và cá ngừ, trong khi cá tra vẫn có doanh số cao nhưng  còn phụ  thuộc nhiều vào  quyết  định  cuối  cùng  của DOC đối với việc xem xét lại mức thuế CBPG đối với cá tra.
    T.P.
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *