• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 134 | Tháng 02/2011

    Nuôi trồng thủy sản (NTTS) vận hành kém hiệu quả sẽ tác động tiêu cực lên môi truờng như gây ô nhiễm đất và nước, giảm đa dạng sinh học, thiệt hại trong môi trường sống tự nhiên. Quản lý môi trường là giải pháp cho vấn đề này.

    Kiểm tra chất lượng nước
    Hiện nay, NTTS được coi là “phương  thuốc”  để thỏa mãn nhu cầu đang ngày một  tăng  lên. NTTS  đang mở rộng và đi vào chiều sâu  tại mọi khu vực trên thế giới, với kỳ vọng  sẽ  đáp  ứng  50%  nhu  cầu tiêu  thụ  thủy  sản  trên  toàn  thế giới trong năm 2010, và theo ước tính của một số chuyên gia, 90% tổng  số  sản phẩm  thủy  sản vào năm  2030  có  xuất  xứ  từ NTTS. Không ai chắc điều này sẽ xảy ra vào  năm  2030  hay  2050,  nhưng không thể phủ nhận rằng nguồn lợi  thủy sản  tự nhiên sẽ  tiếp  tục giảm trong khi nhu cầu tăng lên và  hệ  quả  là NTTS  sẽ  phải mở rộng một cách bền vững để đáp ứng nhu cầu đó.
     
    Tiếp cận bền vững
    Ngành NTTS phải  xem  việc đạt  tới  sự bền vững  là mục  tiêu lâu dài quan trọng nhất của một quá  trình  tăng  trưởng  thành công. NTTS có tiềm năng hỗ trợ chúng  ta  thoát  khỏi  tình  trạng lạm thác nguồn lợi thủy sản ở các đại  dương,  nhưng  chính  ngành này  cũng  có  thể  gây  những  tác động bất lợi cho môi trường.
    Ô  nhiễm  đất  và  nước,  giảm đa  dạng  sinh  học  và  làm  tổn thương các hệ sinh thái tự nhiên là những ví dụ về  tác động  tiêu cực mà NTTS  có  thể gây  ra đối với môi trường hiện nay. Những cân nhắc phức tạp về xã hội, kinh tế và môi trường để đạt mục tiêu bền vững hiện nay đang bị xem nhẹ  trước  những  đòi  hỏi  của các mục  tiêu  kinh  tế  ngắn  hạn. Không  phải  hiện  nay  không  có những tổ  chức  có  cam  kết  bền vững và có trách nhiệm với môi trường, nhưng phần lớn đó chỉ là những trường hợp ngoại lệ. 
    Quản lý môi trường:
    Tiếp cận thực tiễn hướng tới nuôi trồng thủy sản bền vững
    Hệ thống Quản lý Môi trường (Environment  Management Systems – EMS) cho NTTS là một giải pháp tiềm năng để khắc phục tình trạng mất cân bằng đó, nhờ sử dụng các hợp phần tương tác với nhau về lưu giữ, bảo vệ và tối ưu hóa sản xuất và cải thiện môi trường  cho những  thế hệ  tương lai.  EMS  giúp  các  nhà  sản  xuất quy mô  nhỏ  hiện  thực  hóa  các tiềm  năng  một  cách  cũng  hiệu quả như những nhà sản xuất quy mô  lớn,  nhờ  giảm  chi  phí  hoạt động và  tăng hiệu quả  sử dụng nguồn  lợi.  EMS  đề  xướng  triết lý sản xuất bền vững và khả  thi với việc áp dụng tiếp cận theo hệ sinh  thái, cố gắng cân bằng đầu vào với đầu ra của trại nuôi theo những điều  kiện  môi  trường, kinh  tế  và  xã  hội  địa  phương. 

    Đánh giá tác động môi trường (EIA)
    Chọn lọc, lên kế hoạch và xây dựng một hệ thống sản xuất phù hợp  với  điều  kiện  môi  trường riêng  biệt  luôn  là  vấn  đề  bị  coi nhẹ nhưng lại là một trong những khía  cạnh  quan  trọng  nhất  để phát  triển NTTS bền vững. EIA là một công cụ trợ giúp trong quá trình ra quyết định quản lý, bằng cách nghiên cứu những hậu quả của một hành động giả định  có thể ảnh hưởng tới môi trường, so sánh các  lựa chọn khác nhau và xác định lựa chọn tối ưu đối với tổ hợp các chi phí và lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Mặc dù EIA thường bị coi là việc làm tốn kém theo yêu cầu của luật pháp và làm trì hoãn các dự án, nhưng nếu  được mở  rộng  bao  gồm  cả việc  lập mô hình  sinh  thái  theo đặc điểm  của địa điểm,  thì  khả năng đảm bảo tính bền vững và quản  lý  nguồn  lợi  thích  ứng  sẽ tăng  lên  rất  nhiều. Kết  hợp  với việc  lập mô  hình  sinh  thái  cho phép thực  hiện  các  điểm  kiểm tra  môi  trường  trong  chương trình quản lý môi trường (EMP). Số  liệu EMP thu thập trong quá trình  sản  xuất  có  thể  được  sử dụng để hiệu chỉnh các mô hình sinh  thái  cơ  sở và  xác định  liệu những ước tính về khả năng chịu tải  ban  đầu  có  phù  hợp  với  dự đoán  hay  không  để  điều  chỉnh cho phù hợp.
    Hệ thống kiểm tra nhằm xác định các vấn đề trước khi chúng xảy ra
    Điều quan trọng là các chính phủ phải nhận ra các nghiên cứu đánh giá nguồn lợi thủy sinh vật chính là cơ sở để mở rộng ngành NTTS  bền  vững.  Cần  đánh  giá bằng phương pháp mô hình hóa tích  lũy các vực nước nội địa và các vùng ven bờ nhằm ước  tính khả  năng  chịu  tải  của  cả  quốc gia,  đồng  thời  lựa  chọn  những đối  tượng  nuôi  thích  hợp  nhất với những đặc điểm môi trường riêng biệt đó.
    Chương  trình  quản  lý  môi trường toàn quốc sẽ xác định các điểm kiểm tra để hiệu chỉnh mô hình, nhằm đảm  bảo  sản  lượng đạt được tiếp tục ở mức bền vững và hiệu quả. Đánh giá Tác động Nguồn lợi Thủy sản (FRIA) - một phần  trong  sáng  kiến  quốc  gia cho  phát  triển NTTS  bền  vững, cũng giúp giảm nhẹ yêu cầu đầu tư  của  từng  nhà  sản  xuất  riêng lẻ vào các công trình nghiên cứu đánh  giá  tác  động môi  trường.
    An toàn sinh học
    Một  thách  thức  lớn  đối  với sự mở  rộng  trong  tương  lai  của ngành  NTTS  là  bùng  nổ  bệnh dịch. An toàn sinh học ở cấp độ nhà sản xuất có thể được miêu tả như một hệ  thống  tổng hợp  các bước  để  ngăn  ngừa,  kiểm  soát, loại  trừ  các  bệnh  truyền  nhiễm bên  trong  và  bên  ngoài một  cơ sở NTTS. Chính  sách phát  triển NTTS  của  chính  phủ  phải  bao gồm  cả  việc  xây  dựng  các  quy định pháp lý nhằm ngăn chặn và kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh thủy sản. Hệ thống quản lý môi trường phải bao gồm các thủ tục đơn giản và tiết kiệm nhằm giảm tác động lên môi trường tự nhiên đồng thời bảo vệ thủy sản nuôi.
     
    Bệnh  có  thể  truyền  qua  các thành phần như vật nuôi, cán bộ trại nuôi, khách tham quan, thiết bị, phương  tiện vận chuyển, các loài thủy sản nuôi khác, chim và động  vật,  thậm  chí  cả  qua môi trường nước. Thường xảy ra tình trạng vật nuôi thoát ra khỏi công trình nuôi, gây thiệt hại về kinh tế và tác động lên các hệ sinh thái địa phương  làm biến đổi nguồn gien,  cạnh  tranh  với  các  loài  tự nhiên và truyền bệnh sang thủy sản tự nhiên và các trại nuôi lân cận.  Phải  tính  đến  những  hoạt động  sử  dụng  nguồn  lợi  khác tại  địa  phương  khi  lựa  chọn  hệ thống sản xuất  trong những điều kiện  môi  trường  bình  thường cũng  như  những  trường  hợp tồi  tệ  nhất.  Việc  xây  dựng một kế hoạch phòng ngừa  lây  lan sẽ giúp xác định được những rủi ro riêng biệt  của  từng địa điểm và tăng  hiệu  quả  an  toàn  sinh  học trại nuôi.
    Quản lý chất thải
    Quản  lý  chất  thải  là  việc đương  nhiên  phải  làm  nhưng thường bị xem nhẹ trong NTTS. Trong  thực  tế, quản  lý chất  thải mang  lại  nhiều  tiềm  năng  cải thiện tính bền vững và hiệu quả. Triết  lý  quản  lý môi  trường  hệ thống sẽ giúp áp dụng cách tiếp cận  hệ  sinh  thái  trong  quản  lý chất  thải,  nhằm  cân  bằng  đầu vào với đầu ra của NTTS. Ví dụ, quá trình sản xuất thức ăn có thể gây ra sự suy giảm các nguồn lợi thủy  sản  tự nhiên ở biển, gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.
     
    Thu  gom  chất  thải  thủy  sản giàu dinh dưỡng hữu cơ để  làm phân  bón  trong  sản  xuất  nông nghiệp  ở  địa  phương  sẽ  giúp tăng  doanh  thu  và  hạn  chế  ô nhiễm. Thêm vào đó, khi  lượng chất  thải  trong môi  trường nuôi giảm, khả năng đồng hóa của vật nuôi tăng lên làm cho năng suất nuôi cũng  tăng  lên. Số  thủy sản chết làm giảm doanh thu và gây nguy hiểm cho môi trường và an toàn  sức  khỏe  con người  có  thể được  xử  lý  và  tái  sử  dụng  làm phân bón hay ủ  lên men,  từ đó trở thành nguồn doanh thu phụ, đồng thời giảm khí thải nhà kính
    nhờ thay  thế  cho phân bón hóa học và giảm phát thải cácbon.
    Phân bón từ cá tại Mỹ
     
    Phụ  phẩm  trong  quá  trình chế  biến  của một  số  loài  chiếm tới hơn 60% sản lượng. Có nhiều cách sử dụng phụ phẩm, nhưng những tiềm năng này phải được nghiên  cứu  trên  cơ  sở đặc điểm riêng  của  trại  nuôi  và  các  sản phẩm khả thi trên thị trường địa phương. Ví dụ,  sản xuất gelatin chất  lượng  cao  từ da  cá  rất khả thi tại Malaixia, nơi mà nhu cầu đối với gelatin halal rất cao. Quản lý chất thải hiệu quả và tiết kiệm cần được nghiên cứu kỹ tùy theo điều kiện riêng biệt của mỗi trại nuôi nhằm đảm bảo lợi ích tối ưu về môi trường, xã hội và kinh tế.
    Chứng nhận
    Được chứng nhận chất lượng của các bên  thứ ba như các  tiêu chuẩn  ACC  hay  Global  GAP, WWF/ASC  là  chiến  lược  tốt để củng cố lòng tin của khách hàng và giúp  tiếp  cận  thị  trường mới dễ dàng hơn. Thêm vào đó,  các tiêu  chuẩn  chứng  nhận  NTTS thường  cao  hơn  quy định pháp luật của hầu hết các quốc gia và giúp phát triển hệ thống quản lý môi trường phù hợp  cho  các  cơ sở  NTTS.  Nên  đưa  Quy  phạm NTTS  Tối  ưu  (BAP)  thành một chính sách  trên  toàn quốc  trong hệ thống chính sách quốc gia để bảo vệ môi trường và phát triển nguồn lợi bền vững lâu dài. Các chính phủ phải bảo vệ và ủng hộ những  nhà  sản  xuất  thực  hiện quy phạm nuôi tốt, đồng thời có chế tài không khoan nhượng với những cơ sở nuôi trái phép.
    Kết luận
    Quản lý môi trường bao hàm mọi khía cạnh của bền vững,  từ kinh  tế,  địa  điểm  và  lựa  chọn mô hình  sản  xuất, đến  các khía cạnh xã hội  thông qua  các  sáng kiến nghiên cứu và bảo tồn. Các hệ  thống quản  lý môi  trường  là những công cụ thực tiễn và hiệu quả  không  thể  thiếu  khi muốn phát  triển  bền  vững  về  kinh  tế, xã hội và môi trường. Chính phủ đóng  vai  trò  quan  trọng  nhất trong việc thực hiện các hệ thống quản  lý môi  trường. Chính phủ hỗ trợ phát triển bền vững nguồn lợi  thủy  sản  tự nhiên bằng  cách ban  hành  luật  về  quản  lý  môi trường như một yếu tố sống còn của  các  chương  trình phát  triển kinh  tế. Nhà sản xuất có vai  trò quan trọng khi chịu trách nhiệm về hoạt động của họ, và quản lý môi  trường  chính  là  con đường đơn giản và hiệu quả nhất để đạt được mục đích bền vững.
    Ngọc Diệp dịch
                        Infofish 5/2001

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    • MÃ CP
    • CÔNG TY
    • GIÁ
    • THAY ĐỔI
    Dữ liệu do Gafin cung cấp Xem tiếp