• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 135 | Tháng 03/2011

    Từ năm 1970 đến nay, Nhật Bản luôn là nhà nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, tiếp theo là Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Italia và Trung Quốc. Nhật Bản tiếp tục là thị trường quan trọng hàng đầu cho thủy sản Việt Nam trong năm 2010.

    Nguồn nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản

    Trong những  năm  gần  đây, giá trị NK thủy sản của Nhật Bản thường  nằm  trong  khoảng  14 đến 15 tỷ USD mỗi năm.

    Tuy nhiên, tổng NK thủy sản các  loại  trong năm  2009  chỉ đạt 13,2 tỷ USD, giảm khá mạnh với 8,1%  so  với  14,09  tỷ  USD  năm 2008, chủ yếu là giảm các loại sản phẩm chính như  tươi, ướp  lạnh, đông  lạnh  và một  số  sản phẩm thứ yếu khác như muối và khô.

    Riêng  sản  phẩm  tôm,  cá  chình chế biến sẵn tăng nhẹ 1,1%. Cũng trong năm đó, NK từ Chilê tăng, trong khi NK từ Trung Quốc, Mỹ và Nga giảm mạnh.

    Năm 2010,  theo ước  tính của FAO, NK  thủy sản của Nhật Bản đã  tăng  lên  14  tỷ USD,  cao hơn 6%  so với năm 2009, do kinh  tế đã  phần  nào  phục  hồi  sau  suy thoái và xuất hiện những tín hiệu tiến triển ban đầu. Mặt hàng tiến triển rõ nhất là tôm, nhất là tôm chế biến sẵn GTGT.

    Các  nước XK  thủy  sản  hàng đầu  sang  Nhật  Bản  trong  năm 2009  (tính  theo  giá  trị)  gồm: Trung  Quốc  (chiếm  17,1%  thị phần), Mỹ  (8,9%),  Chilê  (8,5%), Thái  Lan  (8%)  và  Nga  (7,4%).

    Tổng NK thủy sản của Nhật Bản từ  5  nước  trên  trong  năm  2009 giảm 7,7% so với năm 2008.

    Dự  đoán  NK  thủy  sản  của Nhật  Bản  năm  2011  sẽ  bằng hoặc  chỉ  tăng  nhẹ  so  với  năm 2010  do  phục  hồi  kinh  tế  chưa rõ  rệt, người dân vẫn  cảnh giác trước  những  biến động  về  kinh tế và chính  trị  trên  thế giới, bên cạnh đó  là xu hướng  các  thế hệ người tiêu dùng trẻ chuyển sang sử dụng  thực phẩm  chế biến  từ thịt nhiều hơn  (các  loại  thức  ăn nhanh Âu, Mỹ).

    Xuất  khẩu  thủy  sản Việt Nam sang Nhật

    Từ  những  ngày  đầu  phát triển  của  ngành  XK  thủy  sản Việt Nam, Nhật Bản  luôn  là  thị trường truyền thống và bền vững và hàng năm luôn là một trong 3 nhà NK thủy sản lớn nhất.

    Năm 2010, do có sự bùng nổ XK  tôm  của Việt Nam  sang Mỹ trong  6  tháng  cuối  năm,  giá  trị NK  của Nhật Bản đã  lui  xuống vị trí thứ 3, sau Mỹ và EU.

    Diễn  biến NK  thủy  sản Việt Nam  của Nhật  Bản  trong mười năm gần đây có thể chia làm hai giai  đoạn  với  những  biểu  hiện khác nhau khá rõ.

    Giai đoạn 2000-2006, NK của Nhật  Bản  tăng  trưởng  khá  đều đặn  cả về giá  trị và khối  lượng, trung  bình  khoảng  10%/năm. Ngược lại, trong giai đoạn 2007-2010,  tình  trạng  NK  thủy  sản Việt Nam vào Nhật luôn có biến động.  Năm  2007,  giá  trị  nhập giảm  11,47%  so  với  năm  2006, chủ yếu do Nhật tăng cường các tiêu chuẩn về vệ sinh ATTP đối với thủy sản NK.

    Cũng trong giai đoạn này khá nhiều  lô hàng  thủy  sản, nhất  là tôm  đông  lạnh  và  các  loại  hải sản Việt Nam bị nhiễm dư lượng chloramphenicol,  nitrofuran…

    Đã  có  thời  gian  thủy  sản  Việt Nam nhập vào Nhật bị đặt dưới chế độ kiểm tra tăng cường. Năm 2009, NK thủy sản Việt Nam vào Nhật một  lần nữa  sụt giảm  sâu hơn 8%, xuống mức thấp hơn cả năm 2007 về giá trị, song nguyên nhân  chính  của  sự  cố này  lại  là ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới.

    Bước sang năm 2010, nhu cầu NK từ hầu hết các thị trường đã khởi sắc ngay từ những tháng đầu năm. Tiêu thụ của người dân với những mặt hàng quen thuộc dần trở  lại,  việc NK  thực  phẩm  nói chung và  thủy  sản nói  riêng  lại quay về với nhịp độ bình thường.

     Việt Nam là một trong những nhà  cung  cấp  đóng  góp  đáng kể  trong  sự  hồi  phục  NK  của thị  trường Nhật Bản. Năm 2010 Việt Nam đã xuất sang Nhật trên 135.000  tấn  thủy sản,  trị giá gần 897  triệu USD,  tăng  trên 19% cả về  khối  lượng  và  giá  trị.  Hiện Nhật Bản  chiếm  17,8%  tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam.

    Những mặt hàng thủy sản chính của Việt Nam XK sang Nhật

    Tôm  luôn  là mặt  hàng  quan trọng,  có  giá  trị  lớn  nhất  trong các  thủy sản Việt Nam XK sang Nhật, Nhật Bản cũng là nhà NK tôm lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua.

    Năm 2010, Việt Nam xuất cho Nhật 62.614 tấn tôm, trị giá trên 581  triệu USD,  tăng  16%  về  giá trị. Đây là mức tăng trưởng đáng kể so với mức sụt giảm nhẹ trong năm  2009.  Nhật  chiếm  27,6% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam trong năm. Năm 2009 và 2010, Việt Nam đã vươn lên là nhà cung cấp tôm lớn  nhất  cho  thị  trường  Nhật Bản,  tiếp đến  là  Inđônêxia, Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc.

    Điều này có ý nghĩa rất quan trọng  trên  thị  trường,  giúp  cho việc  chào  giá  và  thương  lượng giá  bán  cuối  cùng  của  các  nhà XK tôm Việt Nam có trọng lượng hơn. Đồng  thời  cũng  phản  ánh những tiến bộ rất lớn về trình độ chế  biến  và  tiếp  thị  của  ngành tôm Việt Nam trong những năm vừa qua khi  chiếm  lĩnh một  thị trường khắt khe như Nhật Bản.

    Tuy  nhiên,  việc XK  tôm  của Việt  Nam  tăng  trưởng  mạnh trong  năm  2010  là  kết  quả  của việc  một  số  nhà  sản  xuất  tôm lớn  trên  thế giới như  Inđônêxia, Ấn Độ  và Mêhicô …bị mất  sản lượng do dịch  bệnh  và  thời  tiết bất thường. NK tôm từ Việt Nam được đẩy mạnh để bù đắp thiếu hụt  từ các nguồn cung cấp  trên. Thực tế, sức tiêu thụ tôm của thế giới chỉ tăng ở mức rất khiêm tốn. Năm  2010, NK  tôm  của Mỹ  chỉ tăng nhẹ 1,8% so với năm 2009.

    Đối  với  Nhật,  NK  tôm  11 tháng  đầu  năm  2010  chỉ  tăng 4,3%  về  khối  lượng. Tuy  nhiên, theo đánh giá của chính Hiệp hội Siêu  thị Nhật Bản,  tiêu  thụ  tôm của Nhật  vẫn  còn  có  biểu  hiện khả  quan  hơn  rất  nhiều  so  với các mặt hàng thủy sản khác như sản phẩm  tươi,  sushi,  surimi và thủy sản khô, muối.

    Dự  đoán,  XK  tôm  của  Việt Nam sang Nhật sẽ  tiếp  tục  tăng trưởng  trong  năm  2011, do  đến nay chưa có những thông tin tích cực về sản lượng thu hoạch tôm của các nước sản xuất lớn.

    Nhuyễn  thể,  trong  đó  đáng kể nhất  là mực và bạch  tuộc,  là nhóm mặt hàng NK lớn thứ  hai từ Việt Nam của Nhật Bản. Năm 2010, Việt Nam  xuất  18.751  tấn nhuyễn  thể,  trị  giá  113,7  triệu USD,  tăng 5,8% về giá trị so với năm 2009, chiếm 23,3% tổng giá trị XK nhuyễn thể của Việt Nam. Nhóm mặt hàng này rất được ưa chuộng trên thị trường, tuy nhiên khối  lượng XK phụ  thuộc nhiều vào sản lượng khai thác theo mùa vụ trong năm và quan trọng hơn là nguy cơ bị nhiễm kháng sinh cao  trong  bảo  quản. Đây  là  trở ngại lớn nhất đối với các DN XK hải sản sang thị trường Nhật Bản.

    Cá ngừ là mặt hàng thủy sản Việt Nam có mức tăng trưởng XK sang Nhật  Bản  cao  nhất  (29,5% về giá  trị)  trong năm 2010. Mặc dù  giá  trị  đạt  được  còn  khiêm tốn  với  22,1  triệu  USD,  nhưng Nhật Bản vẫn là nhà NK cá ngừ lớn thứ 3 của Việt Nam. Thực tế, khả  năng  cung  cấp  cá  ngừ  của Việt Nam  cho Nhật  bản  có  thể lớn  hơn  nhưng  do  một  số  nhà cung cấp trong khu vực như Thái Lan,  Malaixia,  Philippin…được hưởng mức  thuế ưu đãi  tốt hơn nên  cá ngừ Việt Nam khó  cạnh tranh nổi. Hơn nữa, bản thân giá mua của Nhật cũng thấp hơn các thị trường khác như Mỹ và EU.

    Bên cạnh ba mặt hàng kể trên, cá biển và các mặt hàng thủy sản khô  khác  của  Việt  Nam  cũng là nguồn  cung  cấp đáng kể  cho thị  trường  Nhật  với  giá  trị  XK khoảng hơn 180 triệu USD trong năm 2010.

    Có  thể nói, XK  thủy  sản  của Việt  Nam  bội  thu  trong  năm 2010,  trong  đó  có  sự  đóng  góp đáng kể từ những thắng lợi trên thị trường Nhật Bản. Các DN đã có  rất  nhiều  nỗ  lực  trong  việc phát triển mặt hàng, đa dạng hoá sản phẩm và tăng cường quản lý chất lượng nguyên liệu cũng như thành phẩm để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường.

    Tuy  nhiên,  thảm  hoạ  động đất  và  sóng  thần  nghiêm  trọng vừa xảy ra đã phá huỷ gần như hoàn  toàn  các  tỉnh miền  duyên hải  phía  Đông  Bắc  Nhật  Bản. Không  chỉ  là  những  trung  tâm công  nghiệp,  khu  vực  này  còn là  trung  tâm nghề  cá,  tập  trung nhiều cảng và nhà máy chế biến thủy  sản,  trong  đó  các  nhà NK thủy sản  lớn của Việt Nam như Nippon Suisan Kaisha, Nichirei, Maruha Nichiro, ...

    Mặc dù đến nay, những thiệt hại còn chưa được đánh giá hết, nhưng rõ ràng toàn bộ nền kinh tế này sẽ còn phải gánh chịu ảnh hưởng  trong  một  thời  gian  dài nữa, đời  sống người dân  sẽ  còn khó khăn. Những ảnh hưởng ấy cũng  sẽ  tác  động  tiêu  cực  dến tình  hình  sản  xuất  và  tiêu  thụ thủy  sản  trên  thị  trường  Nhật Bản. Đây là yếu tố mà các nhà XK thủy sản Việt Nam cấn tính đến.

                              Thái Phương

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    • MÃ CP
    • CÔNG TY
    • GIÁ
    • THAY ĐỔI
    Dữ liệu do Gafin cung cấp Xem tiếp