Nguồn lợi thủy sản của khu vực này ngày càng cạn kiệt vì vậy sản lượng khai thác luôn ở khoảng cách rất xa so với nhu cầu tiêu dùng của người dân. Nhập khẩu thủy sản từ các nước trên thế giới từ lâu là con đường duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu của người dân cả về khối lượng và chủng loại thủy sản.
Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của EU trong năm 2008 đạt 6,4 triệu tấn, thấp hơn so với 6,5 triệu tấn năm 2007. Theo chủ trương chung của EU, sản lượng thủy sản đánh bắt của cả khối sẽ được giữ ở mức ổn định nhằm bảo vệ nguồn lợi, vì vậy để tăng sản lượng chung, EU chỉ có thể trông đợi ở phát triển nuôi trồng thủy sản.

Thế nhưng trong thực tế sản lượng nuôi trồng thủy sản của khối không mấy được cải thiện trong những năm vừa qua. Vì vậy xu hướng tăng cường NK thủy sản của EU là điều hiển nhiên. Tuy vậy, vài năm gần đây do suy thoái kinh tế thế giới và nguy cơ nợ công của nhiều nước trong khối nên đã hạn chế đáng kể đến tiềm năng này, khiến NK thủy sản của EU biến động khá mạnh theo diễn biến chung của khủng hoảng tài chính toàn cầu trong mấy năm gần đây.
Theo ước tính của Globefish, năm 2010 vừa qua tổng NK thủy sản của EU đạt khoảng 42,5 tỷ USD, tăng nhẹ 2,6% so với 41.4 tỷ USD năm 2009, tuy nhiên con số trên còn thấp hơn khá nhiều so với 44,7 tỷ USD NK thủy sản của cả khối trong năm 2008.
Tuy nhiên, kết quả NK của năm 2010 đã phản ánh sự phục hồi sức tiêu thụ của người dân EU và các nước XK thủy sản trên thế giới tiếp tục gia tăng sản lượng khá nhanh sang khối này.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU.
Từ năm 2006 EU đã lần lượt vượt Mỹ và Nhật Bản thành nhà NK thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Từ chỗ thị phần NK chỉ chiếm 5,7 % tổng XK thủy sản của VN (năm 2003) đến nay thị phần của EU đã chiếm đến 23,5%, chứng tỏ EU đã có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyêt đầu ra cho thủy sản Việt Nam. Mặc dù so với nhu cầu thủy sản của EU, giá trị cung cấp của Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng gần 2,8% tổng giá trị nhập khẩu thủy sản của EU.Tuy nhiên năm 2010 vừa qua đã là một năm thắng lợi của thủy sản Việt Nam trên thị trường EU, nhiều chỉ tiêu được cải thiện sau một năm sụt giảm tương đối trước đó - 2009.
Năm 2010, Việt Nam đã XK sang EU 364.000 tấn thủy sản, trị giá 1,18 tỷ USD, tăng 4% về khối lượng và 9,6% về giá trị so với năm 2009. Thủy sản của Việt Nam nhập khẩu vào EU và được tiêu thụ chủ yếu ở các nước Đức, Tây Ban Nha, Italia, Hà Lan và Pháp, trong đó Đức và Tây Ban Nha là hai nước NK lớn nhất.
Năm 2010 Pháp là nước có sức tăng trưởng mạnh nhất, với 68,3% về giá trị. Đơn giá NK bình quân của Pháp cũng cao hơn rất nhiều so với hầu hết các nước khác trong khối EU.
Hiện nay, EU nhập khẩu nhiều nhất các mặt hàng cá tra, tôm, nhuyễn thể chân đầu và cá ngừ của Việt Nam.
Những năm 2003 - 2008 đánh dấu những bước thâm nhập rất thành công và ồ ạt của philê cá tra vào Bỉ, Hà Lan và tiếp đến là Đức và Tây Ban Nha, mặc dù việc chiếm lĩnh thị phần nhanh chóng và áp đảo của philê cá tra đã tạo nên một số phản ứng tiêu cực trên các thị trường này.
Sau khi đạt mức đỉnh cao vào năm 2008, XK cá tra vào EU lại liên tục giảm liền trong hai năm 2009 và 2010. Tây Ban Nha và Đức là hai thị trường tiêu thụ nhiều nhất đều giảm mạnh NK từ Việt Nam. Tuy nhiên, theo mạng tin Seafoodsource, nhiều nhà NK của EU lại đang lo lắng trước khả năng có thể thiếu nguồn cung cấp cá tra giá rẻ từ Việt Nam, nhất là khi họ biết năm 2011 Việt Nam dự đoán sản lượng cá nguyên liệu chỉ ở mức 1 triệu tấn.
Hiện nay, giá cá tra XK đã tăng lên 3 USD/kg, cải thiện hơn rất nhiều so với mức 2,3-2,5USD cách đây mấy tháng, tuy vậy còn thấp hơn đến 30% so với giá bán cho thị trường Mỹ. Dự đoán doanh số XK cá tra sang EU sẽ thấp hơn năm 2010 bởi hai lý do chính là nguồn cung cấp từ Việt Nam thấp hơn và tiêu thụ cá tra không mạnh như trước do giá cá tăng và có nhiều dư luận không tốt trên thị trường.
Mặc dù trong nước sẽ có nhiều diễn biến phức tạp trong sản xuất nguyên liệu và XK cá tra, đồng thời có những yếu tố bất lợi về truyền thông trên một số thị trường trong khối, nhưng EU vẫn cần được coi là một địa bàn chiến lược của philê cá tra Việt Nam, tiêu thụ đến gần 36% (511 triệu USD) tổng XK cá tra của Việt Nam trong năm 2010.
Đối với mặt hàng tôm, ba năm gần đây Việt Nam liên tục gia tăng XK tôm sang EU, với mức tăng trưởng khoảng 20%/năm. Các nước NK nhiều nhất là Đức, Anh và Pháp. Tiêu thụ tôm Việt Nam tại các nhà hàng của Pháp tăng lên đáng kể mặc dù tình hình kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn.
Pháp cũng tăng NK từ nhiều nguồn khác như Êcuađo, Thái Lan. NK tôm chế biến cũng tăng khá mạnh (13% trong 9 tháng đầu năm năm 2010).
Trong tháng 1 vừa qua, EU tiếp tục thu hút khá mạnh đối với mặt hàng tôm của Việt Nam, đồng thời mức tăng về giá trị cao gần gấp rưỡi so với tốc độ tăng về khối lượng (93,5% về giá trị và 67,8% về khối lượng) chứng tỏ thị trường này đã nâng cấp nhu cầu (hàng chế biến GTGT và cỡ lớn hơn), trước đây chủ yếu là tôm cỡ nhỏ và trung. Các thị trường Đức, Anh và Pháp phản ánh rõ nhất xu hướng trên, vì vậy có thể thấy mặc dù giá cả thủy sản nói chung và giá tôm nói riêng đã nhích lên nhưng hầu như không gây tác động tiêu cực cho việc NK mặt hàng này.
EU cũng được coi là thị trường tiêu thụ nhuyễn thể lớn nhất của Việt Nam, trong đó Italia là nhà NK đáng kể nhất các mặt hàng mực và bạch tuộc. Đầu năm 2011, Italia tiếp tục NK rất mạnh mặt hàng này, tháng 1/2011 đạt tốc độ tăng trưởng đến 179% về giá trị. Dự đoán thị trường Italia sẽ tiếp tục tiêu thụ tốt mặt hàng nhuyễn thể của Việt Nam trong năm nay.
Nhìn chung, sang đầu năm 2011, hầu hết các nhà tiêu thụ chính thủy sản Việt Nam trong khối EU đều có bước khởi đầu khá triển vọng, đưa NK cả khối tăng đến 43,2 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2010. Dự báo, NK thủy sản Việt Nam của EU sẽ tiến triển tốt trong năm 2011.
Một số biến động trên thị trường EU
Trong thời điểm hiện tại, nét nổi bật nhất trên thị trường EU và trên một số thị trường tiêu thụ thủy sản lớn khác trên thế giới là giá các loại thủy sản hầu hết đều tăng, có những thị trường như Pháp mức tăng của một số loài thủy sản ngon đạt đến hai con số như cá bơn, cá tráp, cá tuyết meluc…, còn một số loại thủy sản thông thường khác cũng tăng 4-8%, theo báo cáo của Seafoodsource. Tuy nhiên cũng có điều lưu ý là giá cá tra bán trên thị trường EU không tăng, trong khi giá xuất của Việt Nam đã tăng đáng kể.
Vừa qua Tổ chức Liên hợp quốc cũng đưa thông tin cho rằng giá thực phẩm toàn cầu đã đạt mức cao kỷ lục và có thể còn tăng cao hơn nữa trong thời gian tới.
Một yếu tố không mới khác khiến giá thủy sản trở nên đắt đỏ là đồng euro chưa có tín hiệu cải thiện so với trước đây, từ cuối năm 2008 đến nay đồng tiền này đã mất giá khoảng 15% so với đồng USD, do vậy giá sản phẩm thủy sản bán ra trên thị trường EU tính ra vẫn đắt đỏ.
Khoảng hơn một năm trở lại đây, nhiều hệ thống phân phối và siêu thị ở châu Âu đã triển khai xây dựng kế hoạch tìm kiếm nguồn cung cấp thủy sản bền vững. Người tiêu dùng ngày càng có ý thức về tính bền vững của sản phẩm, phong trào này ngày càng trở nên rầm rộ ở Anh. Chứng nhận sinh thái đã trở thành mục tiêu thực sự của nhiều nghề đánh bắt sau khi Wal-Mart và nhiều nhà bán lẻ đưa ra cam kết thu mua sản phẩm từ những nghề có chứng nhận của MSC.
Ở Anh có trên một triệu người chọn mua thủy sản có chứng nhận bền vững. Những nhà phân phối lớn của Anh như Sainsbury, Waitrose. Marks & Spencer, Tesco vv… đều có sự lựa chọn đối với thủy sản bền vững, Thủ đô London của Anh đang phấn đấu trở thành Thành phố thủy sản bền vững đầu tiên của thế giới. Các nhà tổ chức Thế vận hội Olimpic 2012 tại London cũng tuyên bố trên 82 tấn thủy sản phục vụ trong đại hội sẽ là sản phẩm có tính bền vững, theo Seafoodsource. Bên cạnh đó hiện nay ở EU đã có nhiều công ty NTTS triển khai nuôi cá hũu cơ, như cá giò, cá hồi và cá rôphi.
Với xu hướng tiến tới các sản phẩm có tính bền vững và thân thiện với môi trường của EU cũng như một số thị trường cao cấp khác, sản phẩm thủy sản của Việt Nam muốn giữ vững vị thế của mình trên thị trường quốc tế cần được định hướng theo mục tiêu phát triển nâng cao chất lượng ngay từ khu vực sản xuất nguyên liệu, đó là quản lý khai thác kết hợp bảo vệ nguồn lợi, quản lý chất lượng môi trường nuôi thủy sản theo các tiêu chuẩn quốc tế, nhất là đối với hai sản phẩm XK chủ lực của Việt Nam là tôm và cá tra.
Phương Mai