• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 166 | Tháng 10/2013

    Trà Vinh là tỉnh ven biển, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nuôi tôm biển từ lâu đã trở thành nghề tạo nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân sống ở vùng ngập mặn, ven biển thuộc 4 huyện: Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và Châu Thành.

    Đặt vấn đề

    Trà Vinh là tỉnh ven biển, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nuôi tôm biển từ lâu đã trở thành nghề tạo nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân sống ở vùng ngập mặn, ven biển thuộc 4 huyện: Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và Châu Thành.

    Nhằm đưa ngành tôm phát triển bền vững, những năm qua ngành nông nghiệp tỉnh Trà Vinh đã hướng người nuôi tôm thực hiện nhiều mô hình nuôi theo quy trình công nghiệp. Vụ nuôi năm 2013, Trà Vinh có 27.000 lượt hộ thả nuôi hơn 2 tỷ con tôm sú giống và 856 triệu con tôm thẻ chân trắng trên diện tích gần 26.000 ha [9]. Nuôi tôm với quy mô lớn theo hình thức công nghiệp ngày càng phổ biến và mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho nông hộ trong vùng.

    Nhờ vào điều kiện địa hình cù lao sông nước thuận lợi để nuôi trồng thủy sản, huyện Châu Thành là một trong những địa phương của tỉnh Trà Vinh chú trọng phát triển hoạt động nuôi tôm công nghiệp thành ngành kinh tế chủ lực của huyện. Năm 2012, huyện Châu Thành có 4.816 lượt hộ nông dân thả nuôi tôm sú, sản lượng thu hoạch tôm của toàn huyện trên 854 tấn [8]. Nghề nuôi tôm sú theo hình thức công nghiệp đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tạo việc làm và cải thiện đời sống cho người dân tại địa phương.

    Tuy nhiên, nghề nuôi tôm sú công nghiệp hiện đang gặp nhiều khó khăn cả trong sản xuất và tiêu thụ. Bên cạnh những khó khăn khách quan do khí hậu, thời tiết, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,… hay sự tăng lên về giá của các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra không ổn định, hầu hết các hộ nuôi tôm sú tại huyện Châu Thành đều nuôi theo hình thức tự phát, chưa tính toán đến hiệu quả kỹ thuật và chưa xác định được các yếu tố đầu vào bao nhiêu là phù hợp. Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả sản xuất của nông hộ nuôi tôm sú công nghiệp tại huyện Châu Thành là thật sự cần thiết.

    Phương pháp nghiên cứu

    Dữ liệu nghiên cứu Trong nghiên cứu này, phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) với các chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE), hiệu quả phân phối nguồn lực (Allocative Efficiency - AE) và hiệu quả sử dụng chi phí (Cost Efficiency - CE).

    Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ 120 nông hộ nuôi tôm sú công nghiệp tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thông qua phiếu khảo sát được soạn sẵn. Để đo lường hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân phối nguồn lực (AE) và hiệu quả sử dụng chi phí (AE), tác giả sử dụng dữ liệu thu thập được từ 120 hộ nuôi tôm bao gồm các biến về sản lượng đầu ra, đầu vào và giá các yếu tố đầu vào được trình bày trong Bảng 1.

    Mô hình ước lượng hiệu quả kỹ thuật, phân phối nguồn lực và sử dụng chi phí

    Theo Tim Coelli [5], hiệu quả sản xuất hình thành từ hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân phối nguồn lực (AE) và hiệu quả sử dụng chi phí (CE) và có thể được đo lường bằng cách sử dụng mô hình phân tích màng bao dữ liệu định hướng dữ liệu đầu vào theo biên cố định do quy mô (the Constant Returns to Scale Input-Oriented DEA Model, CRS-DEA Model).

    Liên quan đến hoạt động nuôi tôm sử dụng nhiều yếu tố đầu vào – một sản phẩm đầu ra như trong nghiên cứu của chúng ta, giả định một tình huống có N đơn vị tạo quyết định (decision making unit - DMU), mỗi DMU sản xuất S sản phẩm bằng cách sử dụng M biến đầu vào khác nhau. Theo tình huống này, để ước lượng TE, AE và CE của từng DMU, một tập hợp phương trình tuyến tính phải được xác lập và giải quyết cho từng DMU. Vấn đề này có thể thực hiện nhờ mô hình CRS Input- Oriented DEA có dạng như sau:  

    Tối thiểu hóa [ ,xi* wi’xi*] với điều kiện:

    Trong đó: wi = vectơ đơn giá các yếu tố sản xuất của DMU thứ i,

    xi* = vectơ số lượng các yếu tố đầu vào theo hướng tối thiểu hoá chi phí sản xuất của DMU thứ i được xác định bởi mô hình (4),

     

    Việc ước lượng TE, AE và CE theo mô hình (1) có thể được thực hiện bởi nhiều chương trình máy tính khác nhau. Tuy nhiên, để thuận tiện tác giả sử dụng chương trình DEAP phiên bản 2.1 cho việc ước tính các loại hiệu quả trong nghiên cứu. Đồ thị 1 minh họa phương pháp hình học giản đơn để đo lường TE, AE, CE. Cụ thể, khi một đơn vị sản xuất tại điểm A, giá trị ước lượng của TE, AE và CE tương ứng tại điểm này được tính toán như công thức sau:


    Kết quả phân tích

    Hiệu quả kỹ thuật

    Hệ số hiệu quả kỹ thuật theo mô hình phân tích màng dữ liệu (DEA) tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nằm trong khoảng từ 0 đến bằng 1. Dựa vào kết quả phân tích cho thấy, hệ số TE của hộ nuôi tôm công nghiệp biến động từ 0,064 đến 1,000 với giá trị trung bình và độ lệch chuẩn tương ứng là 0,616 và 0,278. Với hiệu quả kỹ thuật trung bình là 61,6%, con số này chỉ ra rằng với năng suất đã đạt được thì các hộ nuôi tôm chỉ cần sử dụng 61,6% lượng đầu vào đã dùng hay nói cách khác là hộ nuôi tôm sẽ tiết kiệm 38,4% lượng đầu vào đã sử dụng.

    Điều này cho thấy, các hộ nuôi tôm có hiệu quả kỹ thuật nhỏ hơn 1 nên nghiên cứu giảm thiểu các yếu tố đầu vào để đạt hiệu quả về kỹ thuật tốt hơn. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, số hộ đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu (TE = 1,0) là 16 hộ, chiếm 13,33% tổng số quan sát. Độ rộng của chỉ số TE là [0,064 -1,0] cho thấy sự chênh lệch lớn về hiệu quả kỹ thuật giữa các hộ nuôi tôm công nghiệp

    Hiệu quả phân phối nguồn lực

    Chỉ số hiệu quả phân phối nguồn lực đạt mức trung bình là 0,612, khoảng giá trị từ 0,500 – 0,799 chiếm 71,66%. Số hộ đạt hiệu quả phân phối nguồn lực cao chiếm 8,33%, trong đó chỉ có 1 hộ đạt hiệu quả phân phối tối ưu (AE = 1,000). Những hộ có hiệu quả phân phối nguồn lực thấp chiếm đến 20,01%. Sở dĩ, các hộ nuôi tôm công nghiệp có hiệu quả phân phối nguồn lực chưa cao là do việc phân bổ các nguồn lực đầu vào chưa hợp lí, phụ thuộc nhiều vào khả năng của từng nông hộ.

    Hiệu quả sử dụng chi phí

    Kết quả phân tích cho thấy, hiệu quả sử dụng chi phí bình quân của hộ nuôi tôm là 0,376 với độ biến động có giá trị cao nhất là 1,00 và giá trị thấp nhất là 0,323. Điều này cho thấy, các hộ nuôi tôm công nghiệp chưa sử dụng chi phí đầu vào một cách tối ưu. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí đầu vào của các loại vật tư nông nghiệp như thức ăn, thuốc hóa học,… ngày một tăng cao nhưng các nông hộ không thể cắt giảm các khoản chi phí này vì sẽ ảnh hưởng đến năng suất tôm. Kết quả cũng chỉ ra rằng, nếu một hộ nuôi tôm có hiệu quả sử dụng chi phí ở mức trung bình trong mẫu quan sát có thể đạt được mức hiệu quả như hộ có mức hiệu quả cao nhất thì hộ trung bình đó sẽ tiết kiệm được một lượng chi phí tương ứng là 0,624 đơn vị (1-[0,376/1.000]).

    Kết luận

    Nhìn chung, các hộ nuôi tôm công nghiệp tại huyện Châu Thành chỉ đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối nguồn lực ở mức trung bình với các giá trị lần lượt là 0,616 và 0,612. Trong khi đó, hiệu quả sử dụng chi phí khá thấp với giá trị đạt được là 0,376.

    Như vậy, điểm quan trọng nhất của vấn đề xuất phát từ hiệu quả sử dụng chi phí chưa hợp lý của nông hộ. Đây là cơ sở khoa học quan trọng mà nông hộ cần phải nghiên cứu, điều chỉnh yếu tố nhập lượng đầu vào cho phù hợp, vừa đảm bảo hiệu quả sử dụng chi phí vừa đảm bảo hiệu quả phân phối nguồn lực thì hiệu quả sản xuất sẽ tốt hơn. Bên cạnh đó, vấn đề hiệu quả kỹ thuật cũng cần được quan tâm, nông hộ cần tích cực tham gia các khóa tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để nâng cao kỹ thuật sản xuất góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư.

    NCS. Nguyễn Quốc Nghi

    Trường Đại học Cần Thơ

     

    Tài liệu tham khảo

    1. Abay Mulatu (2005). Efficiency among Private Railway Companies in a weakly Regulated System: The Case of Britain’s Railways in 1893-1992. Working paper No. 08/05.

    2. Boris E.Bravo-Ureta, Antonio E.Pinheiro (1997). Technical, Economic, and Allocative Efficiency in peasant farming: evidence from the Dominican Republic. The Developing Economics, XXXV-1 (March 1997): 48-67.

    3. Broeck J. Van Den (1995). On the Ralative Efficiency of Firms: A Frontier Production Function Approach. Department of Applied Economics, University of Antwerp.

    4. Coelli T. J. (1996). A Guide to DEAP Version 2.1: A Data Envelopment Analysis (Computer) Program. Center for Efficiency and Productivity Analysis, University of New England, Australia. 5. Coelli T. J., D. S. P. Rao, O’Donnell C. J., G. E. Battese (2005). An Introduction to Efficiency and Productivity Analysis. Second Edition, Kluwer Academic Publishers, Chapter 8, 9, 10.

    6. Daehoon Nahm and Niramon Sutummakid (2003). Efficiency of Agricultural Production in the Central Region of Thailand. Macquarie University.

    7. G. E. Battese and T. J. Coelli (1995). A model for technical inefficiency effects. Economics, Volume 20, 325-332. 8. Huỳnh Ân, (2013). Năm 2012, huyện Châu Thành có 4.

    816 lượt hộ nông dân thả nuôi tôm sú. http://www.travinh.gov.vn/wps/ portal/chauthanh

    9. TTXVN (2013). Trà Vinh xây dựng mô hình sản xuất tôm sú giống chất lượng cao. http://canthotv.vn/tin-tuc/tra-vinh-xay-dungmo- hinh-san-xuat-tom-su-giong-chat-luong-cao/

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    • MÃ CP
    • CÔNG TY
    • GIÁ
    • THAY ĐỔI
    Dữ liệu do Gafin cung cấp Xem tiếp